lan hồ điệp bán ở tại Bình Dương
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Chậu lan hồ điệp tím 17 cành 5.100.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Chậu lan hồ điệp tím 5 cành 1.500.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Lan hồ điệp Miss Nhật 1.000.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Giỏ lan hồ điệp trắng gân tím 2.400.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - MS36 2.100.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - MS32 2.100.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Chậu hồ điệp trắng 3 cành đẹp 900.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Chậu lan hồ điệp hồng lưỡi đỏ 1.500.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Chậu lan hồ điệp trắng 7 cành 2.100.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Chậu lan hồ điệp thế đẹp 350.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Chậu lan hồ điệp lớn 39 cành 11.700.000 VND |
lan hồ điệp ở tại Bình Dương - Lan hồ điệp tím mừng tân gia |
hoa phong lan bán ở tại Bình Dương
hoa phong lan ở tại Bình Dương Giỏ lan hồ điệp trắng gân tím 2.400.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Chậu lan hồ điệp hồng lưỡi đỏ 1.500.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Lan hồ điệp tím mừng tân gia |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Chậu lan hồ điệp lớn 39 cành 11.700.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Chậu hồ điệp trắng 3 cành đẹp 900.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Lan hồ điệp Miss Nhật 1.000.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Chậu lan hồ điệp tím 5 cành 1.500.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương MS32 2.100.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Chậu lan hồ điệp thế đẹp 350.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Chậu lan hồ điệp trắng 7 cành 2.100.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương MS36 2.100.000 VND |
hoa phong lan ở tại Bình Dương Chậu lan hồ điệp tím 17 cành 5.100.000 VND |
Lan hồ điệp bình dương , phong lan hồ điệp binh duong
lan hồ điệp trắng tím - Chậu lan hồ điệp Miss Nhật 8 cành 2.800.000 VND |
lan hồ điệp tím - Chậu lan hồ điệp tím 7 cành 2.450.000 VND |
lan hồ điệp tím - Chậu lan hồ điệp tím 8 cành mẫu 2.800.000 VND |
lan hồ điệp tím - Chậu lan hồ điệp tím 5 cành 1.750.000 VND |
lan hồ điệp tím - chậu hồ điệp tím 3 cành 1.050.000 VND |
lan hồ điệp trắng hồng - Chậu lan hồ điệp mừng khai trương 4.200.000 VND |
lan hồ điệp trắng - Chậu hồ điệp trắng 5 cành 1.750.000 VND |
lan hồ điệp trắng - Lan hồ điệp trắng song hỷ 1.050.000 VND |
lan hồ điệp tím - Lan hồ điệp tím mừng sinh nhật mẹ 2.450.000 VND |
lan hồ điệp vàng - Chậu hồ điệp xanh lưỡi đỏ 5 cành 1.750.000 VND |
Lan hồ điệp tím - Chậu lan hồ điệp tím 14 cành 4.900.000 VND |
Lan hồ điệp tím - Chậu 12 cành lan hồ điệp tím 4.200.000 VND |
Lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp tím 8 cành 2.800.000 VND |
Lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp tím 7 cành 2.450.000 VND |
Lan hồ điệp - Chậu hồ điệp tím 2 nhành 700.000 VND |
Lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp lớn 13.650.000 VND |
Lan hồ điệp - Chậu lan Hồ điệp trắng nhiều cành 5.500.000 VND |
Lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp hồng tặng bạn gái 1.750.000 VND |
Lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp tím 5 cành 1.750.000 VND |
Lan hồ điệp - Lan hồ điệp tím 3.850.000 VND |
Lan hồ điệp - 019 2.800.000 VND |
Lan hồ điệp - 018 3.150.000 VND |
Lan hồ điệp - 017 2.800.000 VND |
Lan hồ điệp - 016 2.800.000 VND |
Lan hồ điệp bình dương , phong lan hồ điệp binh duong
Lan hồ điệp - 015 4.200.000 VND |
Lan hồ điệp - 012 1.400.000 VND |
Lan hồ điệp - 011 2.100.000 VND |
Lan hồ điệp - 010 2.450.000 VND |
Lan hồ điệp - 009 2.100.000 VND |
Lan hồ điệp - 008 2.450.000 VND |
Lan hồ điệp - 007 4.550.000 VND |
Lan hồ điệp - 006 4.550.000 VND |
Lan hồ điệp - 005 2.800.000 VND |
Lan hồ điệp - 004 3.850.000 VND |
Lan hồ điệp - 03 2.100.000 VND |
Lan hồ điệp - 02 2.100.000 VND |
Lan hồ điệp - 002 2.100.000 VND |
Lan hồ điệp - 01 3.150.000 VND |
Lan hồ điệp - 001 3.850.000 VND |
lan hồ điệp trắng tím 20 cành 7.000.000 VND |
lan hồ điệp 14 cành tím 4.900.000 VND |
lan hồ điệp 8 cành tím 2.900.000 VND |
lan hồ điệp tím 350.000 VND |
lan hồ điệp trắng 350.000 VND |
lan hồ điệp - Giỏ lan hồ điệp trắng gân tím 2.400.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp trắng 9 cành 2.700.000 VND |
lan hồ điệp - Lan hồ điệp trắng 8 cành 2.400.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp trắng 6 cành 1.800.000 VND |
Lan hồ điệp bình dương , phong lan hồ điệp binh duong
lan hồ điệp - 6 cành lan hồ điệp trắng 1.800.000 VND |
lan hồ điệp - Lan hồ điệp 350.000 VND |
lan hồ điệp - Lan hồ điệp Miss Nhật |
lan hồ điệp - HLCX_MS01 1.400.000 VND |
lan hồ điệp - Giỏ lan hồ điệp vàng 8 cành 2.400.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu phong lan đẹp 3.300.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp vàng 6 cành 1.800.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp vàng 2.400.000 VND |
lan hồ điệp - 5 cành lan hồ điệp trắng hồng 1.500.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu hồ điệp trắng 3 cành đẹp 900.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu 5 cành lan hồ điệp tím 1.500.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp giá trị |
lan hồ điệp - Chậu 5 cành lan hồ điệp tím 1.500.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp lớn 33 cành 9.900.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp trắng 15 cành 4.500.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp trắng 9 cành 2.700.000 VND |
lan hồ điệp - Lan hồ điệp trắng 8 cành 2.400.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp trắng 7 cành |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp tím 17 cành 5.100.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp tím 9 cành 2.700.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp thế đẹp 350.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu lan hồ điệp lớn 39 cành 11.700.000 VND |
lan hồ điệp - Chậu Lan Hồ Điệp 12 cành 3.600.000 VND |
an hồ điệp - Chậu lan hồ điệp 10 cành 3.000.000 VND |
Lan hồ điệp bình dương , phong lan hồ điệp binh duong
lan hồ điệp - Chậu Lan hồ điệp 1 cây 350.000 VND |
lan hồ điệp - Bộ lan hồ điệp 2 cây 600.000 VND |
lan hồ điệp 53 |
lan hồ điệp 52 |
lan hồ điệp 51 |
lan hồ điệp 50 |
lan hồ điệp 49 |
lan hồ điệp 48 |
lan hồ điệp 47 |
lan hồ điệp 46 |
lan hồ điệp 45 |
lan hồ điệp 44 |
lan hồ điệp 43 |
lan hồ điệp 42 |
lan hồ điệp 41 |
lan hồ điệp 40 |
lan hồ điệp 39 550.000 VND |
lan hồ điệp 38 300.000 VND |
lan hồ điệp 37 63.000.000 VND |
lan hồ điệp 36 28.000.000 VND |
lan hồ điệp 35 22.500.000 VND |
lan hồ điệp 34 6.900.000 VND |
lan hồ điệp 33 600.000 VND |
lan hồ điệp 31 4.000.000 VND |
Lan hồ điệp bình dương , phong lan hồ điệp binh duong
lan hồ điệp 30 300.000 VND |
lan hồ điệp 029 2.300.000 VND |
lan hồ điệp 028 1.600.000 VND |
lan hồ điệp 027 1.500.000 VND |
lan hồ điệp 026 1.500.000 VND |
lan hồ điệp 025 600.000 VND |
lan hồ điệp LHD024 1.200.000 VND |
lan hồ điệp LHD023 600.000 VND |
lan hồ điệp LHD022 800.000 VND |
lan hồ điệp LHD021 1.500.000 VND |
lan hồ điệp DSC06249 7.000.000 VND |
lan hồ điệp DSC06252 15.000.000 VND |
lan hồ điệp DSC06254 10.500.000 VND |
lan hồ điệp DSC06256 2.500.000 VND |
lan hồ điệp DSC06258 2.500.000 VND |
lan hồ điệp DSC06259 2.500.000 VND |
lan hồ điệp DSC06260 1.050.000 VND |
lan hồ điệp DSC06261 1.750.000 VND |
lan hồ điệp DSC06262 3.150.000 VND |
lan hồ điệp DSC06263 1.050.000 VND |
lan hồ điệp DSC06264 1.750.000 VND |
lan hồ điệp DSC06266 3.150.000 VND |
lan hồ điệp DSC06267 1.050.000 VND |
lan hồ điệp DSC06269 2.450.000 VND |
Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm 8 tỉnh thành, thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây
Ninh, Long An và tỉnh Tiền Giang), là một trong những tỉnh có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước
Địa
hình tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên
phong phú. Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa, từ tháng 5 - 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước
đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm 1.800mm - 2.000mm.
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC.
Diện
tích tự nhiên 269.442,84 ha (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước,
khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ). Dân số 1.727.154 người
(31/12/2011), mật độ dân số khoảng 550 người/km2. Gồm 7 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó thánh phố Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh.
Bình
Dương là cửa ngõ giao thương với TP. Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế -
văn hóa của cả nước; có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia
chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á …;
cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15 Km…
thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội toàn diện.
Trong
những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, GDP tăng
bình quân khoảng 14,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, công
nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, năm 2010, tỷ lệ
công nghiệp - xây dựng 63%, dịch vụ 32,6% và nông lâm nghiệp 4,4%.
Hiện
nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung có
tổng diện tích hơn 8.700 ha với hơn 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài
nước đang hoạt động có tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ đôla Mỹ.
Với
những ưu thế về điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế - xã hội và chính
sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển
bền vững, trở thành một thành phố văn minh, hiện đại nhất Việt Nam và
khu vực Đông Nam Á.
Bình Dương thu hút 84 dự án đầu tư nước ngoài
Mặc
dù trong bối cảnh chung còn nhiều khó khăn nhưng kinh tế của tỉnh Bình
Dương trong 9 tháng năm 2012 vẫn duy trì mức tăng trưởng tích cực. Tổng
sản phẩm (GDP) của tỉnh ước tăng 11,2% so với cùng kỳ, thu hút đầu
tư nước ngoài đứng đầu cả nước.
Vốn
đầu tư nước ngoài đạt 2 tỷ 448 triệu đô la Mỹ, gồm: 84 dự án cấp mới với
tổng số vốn 1 tỷ 548 triệu đô la Mỹ và 89 lượt dự án tăng vốn với tổng
số vốn 889 triệu đô la Mỹ, trong đó, dự án đầu tư khu đô thị Tokyu có số
vốn 1,2 tỷ đô la Mỹ. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 2.109 dự án với tổng
số vốn là 17 tỷ 250 triệu đô la Mỹ. Tỉnh đã tổ chức ba đợt trao Giấy
chứng nhận đầu tư một số dự án quan trọng cho các nhà đầu tư trong và
ngoài nước.
Bên
cạnh đó, thu hút vốn đầu tư trong nước đạt 10.134 tỷ đồng, gồm 1.240
doanh nghiệp đăng ký mới với số vốn 5.735 tỷ đồng và 328 lượt doanh
nghiệp tăng vốn với số vốn 4.399 tỷ đồng. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có
13.181 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với tổng vốn 101.653 tỷ đồng.
Theo
thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 9
tháng năm 2012, Bình Dương là địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước
ngoài nhất với 2,448 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 22,7%
tổng vốn đầu tư. Hải Phòng đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và
tăng thêm là 1,08 tỷ USD, chiếm 11,3%. Đồng Nai đứng thứ ba với 991,6
triệu USD vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm. Tiếp theo là TP Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Bắc Giang với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 996 triệu USD; 954
triệu USD và 921 triệu USD.
Bình Dương chú trọng xây dựng hạ tầng đi đôi với bảo vệ môi trường tại các KCN
Những năm qua, với nhiều chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư, Bình Dương là một trong những tỉnh, thành có môi trường đầu tư tốt, nhất là kết cấu hạ tầng các KCN được đầu tư một cách đồng bộ, trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
.lan hồ điệp đà lạt ,hoa
lan hồ điệp đài loan , phong
lan hồ điệp tết , hoa
lan hồ điệp chơi tết,
lan hồ điệp tặng tết ...
điện hoa ...
bánh kem ,
bánh sinh nhật ,
gấu bông .
hoa tươi ...
điện hoa ........
hoa tươi ,
điện hoa ,
hoa tươi ,
điện hoa ,
lan hồ điệp ,
lan hồ điệp ...
hoa tươi ...
điện hoa ...
quà tặng ...
.......
Những năm qua, với nhiều chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư, Bình Dương là một trong những tỉnh, thành có môi trường đầu tư tốt, nhất là kết cấu hạ tầng các KCN được đầu tư một cách đồng bộ, trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tập trung xây dựng hạ tầng cơ sở
Theo báo cáo của UBND tỉnh, đến
nay, tổng vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của các KCN thực hiện trên
7.003 tỷ đồng và 392 triệu đô la Mỹ. So với tổng vốn đầu tư được phê
duyệt đạt trên 80% đối với các dự án có vốn đầu tư trong nước và 45% đối
với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Có tất cả 19 doanh nghiệp thuộc
nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng
KCN, bao gồm 3 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, 02 công ty liên doanh, 9
công ty cổ phần, 4 công ty TNHH và 01 doanh nghiệp tư nhân.
Trong tổng vốn đầu tư kết cấu hạ
tầng kỹ thuật, đầu tư cho giao thông và thoát nước chiếm tỷ lệ cao
khoảng 26%, hệ thống xử lý nước thải chiếm 8% so với tổng vốn đầu tư hạ
tầng kỹ thuật trong các KCN. Các KCN đã đầu tư đồng bộ các công trình hạ
tầng kỹ thuật. Cụ thể: giao thông, điện trung thế, điện chiếu sáng, hệ
thống thoát nước thải, nước mưa, trạm xử lý nước thải tập trung, cây
xanh, khu văn phòng, dịch vụ tài chính-ngân hàng. Một số KCN có các
công trình hạ tầng văn hóa như rạp hát, siêu thị, bệnh viện, nhà ở cho
công nhân…
Để phục vụ các nhà đầu tư, hệ
thống giao thông các KCN được đầu tư một cách đồng bộ với kích thước
rộng lớn, thông thoáng, dễ dàng, thuận tiện cho các phương tiện chuyên
chở hàng hóa, xe chữa cháy và phương tiện của người lao động khi lưu
thông.
Dọc hai bên đường giao thông là
những thảm cỏ, cây xanh có tán lớn, tạo mỹ quan và bóng mát. Tuyến đường
lớn có chiều rộng mặt đường trên 32m và đường nhỏ nhất có bề rộng 9m.
Bên cạnh đó, đường giao thông
nội bộ nối liền trục giao thông chính của tỉnh như Quốc lộ 13, đường
DDT742 đi thị xã Đồng Xoài (Bình Phước) và nối với Quốc lộ 14, các đường
tạo lực Khu liên hợp Công nghiệp - Đô thị - Dịch vụ Bình Dương kết nối
các KCN… do tỉnh đầu tư để kết nối hạ tầng trong KCN với bên ngoài hàng
rào KCN, tạo thuận lợi trong việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa của các
doanh nghiệp cũng như thu hút đầu tư.
Hiện nay, tỉnh đã xây dựng dự án
đường Mỹ Phước - Tân Vạn, dự kiến hoàn thành vào năm 2013. Đây sẽ là
tuyến đường vận chuyển huyết mạch để đưa hàng hóa đến cảng Cái Mép - Thị
Vải và sân bay Quốc tế Long Thành trong tương lai, góp phần rút ngắn
thời gian vận chuyển (60%), giảm 25% chi phí cho doanh nghiệp.
Ông Trần Văn Liễu - Trưởng Ban
Quản lý các KCN tỉnh cho biết, hầu hết các KCN đều được triển khai xây
dựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch chi tiết KCN được duyệt. Trong thời
gian qua, cuộc khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút đầu
tư nhưng các công ty đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng vẫn thực
hiện đúng tiến độ với đầy đủ các tiện ích, đáp ứng tốt yêu cầu của các
nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tích cực bảo vệ môi trường KCN
Ngay khi Nghị định số
29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ có hiệu lực thi hành, UBND
tỉnh và UBND các huyện, thị xã có KCN đã tiến hành ủy quyền cho các Ban
Quản lý KCN thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về môi trường trong KCN
để tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện pháp
luật về môi trường của doanh nghiệp KCN. Tỉnh cũng đã chỉ đạo hạn chế
tiếp nhận các dự án có nguy cơ ô nhiễm cao như dệt, nhuộm, xi mạ, hóa
chất; ban hành Kế hoạch bảo vệ môi trường giai đoạn 2007-2010 và
2011-2015; triển khai dự án đặt các thiết bị quan trắc tự động tại 6
KCN.
Trong tổng số 26 KCN đang hoạt
động, có 25 KCN đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung và đưa vào
vận hành, đạt tỷ lệ 96% với tổng công suất thiết kế đạt 110.000m3/ngày; 01 KCN đang xây dựng nhà máy với tổng công suất thiết kế là 2.500m3/ngày. Tỷ lệ các doanh nghiệp trong KCN đấu nối nước thải về nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt 97%.
Đối với doanh nghiệp trong quá
trình sản xuất có phát sinh khí thải, hầu hết đều đã xây dựng và lắp đặt
hệ thống xử lý khí thải cục bộ tại doanh nghiệp. Trong thời gian qua,
kết quả quan trắc không khí tại một số KCN hầu hết các chỉ tiêu ô nhiễm
đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép.
Đối với chất thải rắn phát sinh
từ hoạt động công nghiệp về cơ bản chia làm 3 loại: chất thải rắn sinh
hoạt, chất thải rắn công nghiệp không nguy hại và chất thải rắn nguy
hại. Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp
không nguy hại được Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và môi trường Bình
Dương, các xí nghiệp công trình đô thị của các huyện, thị, thành phố và
một số doanh nghiệp tư nhân thực hiện.
Riêng chất thải rắn nguy hại
được các doanh nghiệp hợp đồng thu gom và xử lý với các đơn vị có chức
năng. Tuy nhiên, việc phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải rắn còn có
nhiều hạn chế, hiệu quả xử lý chất thải nguy hại chưa cao.
Núi Cậu, Lòng Hồ Dầu Tiếng - Danh thắng được kết hợp bởi sông – nước – núi – đồi
Quần
thể Núi Cậu với tổng diện tích hơn 1600 ha, gồm 21 ngọn (7 ngọn lớn và
14 ngọn nhỏ), ngọn núi có dạng hình chữ U. Ngọn núi cao nhất là Núi Cửa
Ông cao 295m, Núi Ông cao 285m, Núi Tha La cao 198m và núi thấp nhất cao
63m là Núi Chúa. Bốn ngọn núi này gắn liền với nhau tạo thành một dãy
núi nhấp nhô kéo dài nằm chếch về hướng Bắc – Đông Bắc và Nam - Tây Nam.
Đặc
biệt, dãy núi Cậu có hình dáng như 2 yên ngựa nên người dân địa phương
còn gọi là Yên ngựa 1 (Núi Cửa Ông và Núi Ông), Yên ngựa 2 là ( Núi Tha
La). Vùng Núi Cậu có trữ lượng cao nên thảo mộc thiên nhiên trù phú và ở
đây còn có các loại gỗ quý như: gõ, căm xe, giáng hương, bằng lăng và
nhiều loại thảo mộc khác… nơi sinh sống của nhiều loài động vật như:
Nai, mễn, heo rừng,….
Về
hướng Nam – Tây Nam dưới chân núi, ta bắt gặp một thác nước đang ào ào
tuông chảy chen qua các tản đá rồi đổ xuống một trũng nước hình tròn có
độ sâu khoảng 3m, có đường kính độ mươi mét. Trũng nước lắng đọng làm
chựng sức mạnh tuôn trào của dòng suối và không ngừng những âm thanh xao
động rì rào… mang tên là Hồ Than Thở.
Trên
đỉnh núi cũng có một ngôi miếu thờ “Cậu Bảy” và nhiều tảng đá tạo thành
những hình tượng vô cùng hấp dẫn. Dưới chân núi có ngôi chùa Thái Sơn
do hoà thượng Thích Đạt Phẩm (thế danh: Đinh Văn Trên) (Thầy sáu) xây
dựng vào năm 1988, tổng diện tích trên 5 hecta gồm các hạng mục như:
cổng Tam Quan, ngôi Đại Tháp cao 36m có 9 tầng, tượng quan Thế âm cao
12m, chánh điện, điện ngọc cũng được xây đựng theo lối kiến trúc cổ lầu,
bên trong chánh điện thầy trụ trì và chư tăng phật tử thường xuyên gõ
mõ tụng kinh nên khu vực này tăng thêm phần linh thiêng tín ngưỡng của
du khách thập phương…
Trong
kháng chiến vùng núi hiền hòa nầy đã che chở cho hòa thượng Đạt Phẩm và
các đồng chí hoạt động cánh mạng. Có lẽ đây là một phần trong nhiều
nguyên nhân khác về mặt tâm linh, đã làm cho Hoà Thượng quyết tâm xây
đựng chùa Thái Sơn trên mảnh đất năm xưa núi cậu.
Lòng hồ là một công trình thủy lợi với diện tích rộng trên 27000 hecta và 1,5 tỷ m3
nước phục vụ nông nghiệp. Những nhà quản lí công trình, những kỹ sư và
công nhân ngành thủy lợi đã đầu tư trí tuệ, sức lực và lòng quyết tâm
đạt được mục tiêu hồ có khả năng tưới tiêu cho hơn hàng trăm ngàn hecta
đất ruộng và hoa màu của một vùng rộng lớn từ Tây Ninh đến Bình Dương
qua Long An về thành phố Hồ Chí Minh.
Núi
Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng là một danh thắng được kết hợp Sông - Nước –
Núi – Đồi quả thật là phong cảnh đẹp, một địa thế tiền thủy, hậu sơn đã
tạo nên nét hiền hòa, êm ả của dòng nước lòng hồ trong mát, bên cạnh một
bức bình phong hùng vĩ của rừng núi thiên nhiên như một vị thần che chở
bảo hộ sự bình an cho mọi người .
Đặc
biệt, vùng rừng Núi này còn là rừng phòng hộ – Nước lòng hồ này còn là
nước tưới tiêu xả lũ cho các vùng ven sông. Núi Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng
là một thắng cảnh – du lịch ngoạn mục là địa điểm nổi tiếng mà nhiều
khách thập phương trong và ngoài nước đã đến đây với tấm lòng ngưỡng mộ
và thích thú.
Núi Cậu từng là căn cứ hoạt động cách mạng trong kháng chiến
Trèo
lên Núi ở độ cao khoảng 284.6m, ta thấy cảnh trời đất xung quanh hiện
ra trước mắt, xa xa là thị trấn Dầu Tiếng sầm uất, đang hối hả nhộn
nhịp. Đặc biệt, từ khi tách Dầu Tiếng được tái lập, huyện đã nhanh chóng
ổn định đi vào chỉnh trang đô thị cho xứng đáng tầm vóc của một huyện
có bề dày lịch sử chống kẻ thù mà Hồ Chủ Tịch đã khen tặng trong thư
chúc tết năm 1966 của Người :
“… Mừng miền Nam rực rỡ chiến côngNhiều Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Plây Me, Đà Nẵng…”
Giai
đoạn kháng chiến chống Pháp. Núi Cậu đã trở thành căn cứ hoạt động cách
mạng. Nơi đây được gọi là Định Thành căn cứ để phân biệt Định Thành tạm
chiếm lúc bấy giờ.
Tháng
5 năm 1951, thực hiện chủ trương của Quân khu ủy, Phân liên khu Miền
Đông, vùng cao su gồm 22 làng nhập vào huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây
Ninh. Huyện Ủy Dương Minh Châu chỉ định cấp ủy, chi bộ thị trấn Dầu
Tiếng gồm 5 đồng chí, đồng chí Trần Văn Lắc phụ trách khu vực ấp 4 Bàu
Sình lên đóng quân trên Núi Cậu.
Đến
năm 1961, lúc bấy giờ du kích hoạt động gần như không có vũ khí gì
trong tay chỉ có Làng 22 đầu tiên có 1 tiểu đội là có dao, mã tấu làm
các công việc an ninh trật tự và cũng là làng đầu tiên được nhận 3 cây
mút mát. Từ đó, đội võ trang được gọi là đội du kích, Ban cán sự, thành
lập 8 đội công tác địa điểm hoạt động tại Núi Cậu, mật danh là các “C”
(về sau đổi thành các B): B21, B26, B28. B đầu tiên có 1 súng là B26
đồng chí Sáu Bi mang về.
Đến
năm 1967, cuộc hành quân Junction City của Mỹ kết thúc, Núi Cậu biến
thành thế mạnh của chúng, chúng đã chiếm và đặt thành một chốt giao cho
tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 173 đóng giữ từ mùa xuân qua tới đầu mùa hè.
Qua
trận Mậu Thân 1968, bằng mọi cách nối lại liên lạc tạo dựng lại cơ sở
căn cứ. Huyện ủy, huyện đội, công an hình thành một cụm căn cứ nhưng
hoạt động phân tán để tránh thiệt hại cả cụm. Căn cứ ít nhất phải ba
vòng trái chuyển đi dời lại từ Núi Cậu đến khu vực đầu lô 69. Rồi lại
trở về Núi Cậu. Núi Cậu là địa hình, địa thế rất thuận lợi nên Cách mạng
quyết tâm trấn giữ làm căn cứ tiếp sức cho phát triển phong trào, nhằm
góp phần vào chiến thắng chung.
Bảo
tồn danh thắng núi và lòng hồ là bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử,
gìn giữ một cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái lý tưởng. Hiện
nay, Núi Cậu là khu rừng phòng hộ nên chi cục kiểm lâm – Hạt kiểm Lâm
Dầu Tiếng đang bảo vệ rất nghiêm ngặt. Khu vực chùa Thái Sơn có trụ trì
Đạt Phẩm, cùng một số phật tử sớm tối kinh mõ cầu an cho mọi người.
Riêng phong cảnh của Lòng Hồ cũng được Phòng quản lý nước của Công ty
khai thác thủy lợi quản lý theo dõi nước lên, nước xuống mà có biện pháp
khắc phục nhằm ổn định cho sự hiệu quả và an toàn của Hồ nước.
Chợ Thủ Dầu Một
Hiện
chợ Thủ Dầu Một tọa lạc trên một vị trí tương đối bằng phẳng, nằm sát
sông Gài Gòn và các con đường bao quanh chợ; phía Bắc giáp với đường
Nguyễn Thái Học, phía Nam giáp đường Bạch Đằng, phía Tây giáp đường Đoàn
Trần Nghiệp, Đông giáp đường Trần Hưng Đạo. Chợ là trung tâm có vị trí
khá thuận lợi cho việc trao đổi và buôn bán.
|
Phú Cường – tên gọi khởi nguồn của chợ Thủ Dầu Một
Chợ Thủ Dầu Một, lúc khởi nguồn
được gọi là chợ Phú Cường. Theo lịch sử địa phương, vùng đất Phú Cường
đến đầu thế kỷ XVII vẫn còn là đất hoang, cảnh quan nơi đây chính là
những khu rừng rậm. Trong đó, hình ảnh nổi bật là những rừng Dầu cổ thụ ở
khu vực Chánh Nghĩa hiện nay, nhất là vùng ven sông lúc đó chỉ là những
bãi lầy, ngập nước hình thành dần do phù sa sông Sài Gòn bù đắp. Về
phía Nam của Phú Cường với những mái nhà ngói chìm trong những tán lá
cây xanh. Con rạch nhỏ được phủ kín những thuyền buồm, ngôi chợ được đặt
ở khúc rạch đầu tiên.
Khi Nguyễn Hữu Kính vào kinh
lược đất Gia Định năm 1698. Khu vực Phú Cường ngày nay, cư dân hội tụ có
phần muộn hơn so với Lái Thiêu, Thị Tính nhưng lại tập trung đông và
nhanh hơn do vị trí hình thành lỵ sở của tổng Bình Điền, huyện Bình An
thuộc tỉnh Biên Hòa lúc đó.
Địa danh Phú Cường xuất hiện vào
khoảng năm 1838 (Đời Vua Minh Mệnh thứ XVIII) cùng với sự thay đổi
nhiều tên tổng và thôn của huyện Bình An. Vì vậy, tên gọi chợ Phú Cường
cũng có thể được phôi thai trong khoảng thời gian này. Chợ Phú Cường,
trong lịch sử hình thành muộn hơn so với một số chợ của huyện Bình An
như chợ Tân Hoa, chợ Thị Tính, chợ Bình Nhâm Thượng.
Phần “Thị Điểm” (Chợ Quán) của
sách Đại Nam Nhất Thống Chí - bộ sách địa lý được biên soạn trong khoảng
thời gian từ 1864 -1875, đã nói đến tên chợ Phú Cường: “Chợ Phú
Cường ở thôn Phú Cường, huyện Bình An tục danh gọi là chợ Thủ Dầu Miệt
(hay Dầu Một) ở bên lỵ sở huyện, xe cọ ghe thuyền tấp nập đông đảo”.
Đến năn 1889, trên địa bàn huyện Bình An, tỉnh Thủ Dầu Một được thành
lập, chợ Phú Cường trở thành chợ tỉnh Thủ Dầu Một. Từ đó, tên chợ Thủ
hoặc Thủ Dầu Một lại được nhắc nhiều đến trong dân gian và cả trong thơ
ca sách báo.
“Chiều chiều mượn ngựa ông Đô
Mượn ba chú lính đưa cô tôi về
Đưa về chợ Thủ bán hủ bán ve,
Bán bộ đồ chè bán cối đâm tiêu…”
Trước khi người Pháp xâm chiếm
đồn binh Thủ Dầu Một năm 1861, thì chợ Phú Cường đã là nơi buôn bán sầm
uất, nhiều xe cộ, ghe thuyền quy tụ về trao đổi buôn bán hàng hóa.
|
Chợ Thủ Dầu Một - lối kiến trúc kiểu Pháp nặng về mô tuýp châu Âu
Sau
khi người Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Trong đó, có tỉnh Biên Hòa (huyện
Bình An thuộc tỉnh Biên Hòa), người Pháp đã tiến hành phục hồi và biến
đổi hoàn toàn chợ Phú Cường với cổng lát đá và đắp đường cao bên trong.
Theo “địa phương chí Bình Dương” viết vào năm 1888, nhà cầm quyền Pháp
cho lấp con rạch Phú Cường ăn thông với sông Sài Gòn và đã hoàn thành
công việc này vào năm 1890.
Đến
năm 1935, người Pháp nhận thấy việc đầu tư vào chợ có lợi lớn, họ đã
tiến hành phục hồi và biến đổi hoàn toàn chợ Phú Cường mô phỏng theo
kiểu các ngôi chợ xưa ở Pháp có cấu trúc gần giống chợ Nam Vang
(Campuchia) và chợ Bến Thành (Sài Gòn). Điểm đặc biệt của mô hình trên
là họ vẫn tôn trọng, giữ nguyên vị trí cũ. Năm 1938, chợ Thủ được khánh
thành với mô hình mới, kiến trúc phóng khoáng, trang nhã, vào thời đó và
có lợi thế hơn nhiều nơi khác.
Chợ
được phân thành bảy khu lớn nhỏ và được xây dựng theo kiểu hình chữ
nhật gồm ba căn nhà tách biệt nhau. Từ đường Trần Hưng Đạo đi vào, ta
bắt gặp căn nhà dài một lầu, một trệt nhà còn gọi là (khu Thương Xá) xây
dựng và bố trí phân theo từng phân khu nhỏ dân gian vẫn thường gọi là
“sạp chợ” để bày bán các mặt hàng hóa. Sau khu Thương Xá là căn nhà
ngang (khu ăn uống), xây dựng giữa khu Thương Xá và khu Đồng hồ, được
bài trí thành ba gian chính để phục vụ việc ăn uống. Phía sau là căn nhà
dài – nhà dãy chợ (hay khu chợ Đồng Hồ) cũng được xây xựng và bài trí
theo từng phân khu nhỏ kể cả ngay dưới chân Tháp Đồng Hồ chợ.
Nhà
dãy chợ là căn đầu tiên thực dân Pháp xây dựng vào năm 1935, với lối
kiến trúc tạo dáng hình con tàu mà đỉnh tháp là chiếc đồng hồ nặng về mô
típ Châu Âu, do ông Bonnemain kiến trúc sư người Pháp thiết kế và khánh
thành năm 1938. Dãy nhà xây dựng theo kiến trúc nhà dài, có diện tích
2.590m2, có hai mái chia thành hai tầng, chiều cao từ nền đến
đỉnh là 10.3m. Nhà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và
phát triển của chợ Thủ.
Tháp
Đồng hồ chợ được xây dựng theo kiểu hình lục giác gắn liền với nhà dãy
chợ, có chiều cao 23.72m, gồm bốn lầu. Lầu trệt từ nền tới trần có chiều
cao 6,5m được đổ bằng bê tông, cốt thép, có bậc thang lên xuống làm
bằng sắt và được gắn ở phía trong của tháp. Ngoài lát đá và ghép gạch
bông ở mặt phía Đông và Tây của tháp. Từ lầu hai trở lên tháp được đắp
đường cao bên trong thành tám cột trụ ở các cạnh hình lục giác. Tháp
được xây dựng theo kiểu tam cấp càng lên cao càng thu hẹp. Lên đến lầu
ba tháp được đổ tấm đan bê tông và xây cao chừng một mét để làm nền cho
mặt đồng hồ cũng là nơi để gắn Đồng hồ. Trên nền của mặt đồng hồ được
làm bằng nền màu trắng, con số màu xanh và kim chỉ đồng hồ được sơn màu
đen. Trên đồng hồ được đổ bốn tấm đan bê tông gắn phía trên đồng hồ để
che nắng mưa. Trên đỉnh tháp được gắn 4 chiếc đồng hồ. Chính từ những
chiếc đồng hồ được bố trí theo Đông - Tây - Nam - Bắc, đã tạo nên một
dấu ấn đặc sắc, hình thành tình cảm quên thuộc, sâu sắc của người dân
Bình Dương.
Hình
ảnh tháp chợ Đồng hồ là nhịp sống trái tim và là biểu tượng đã trải bao
lần thịnh suy trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này.
Chợ
Thủ Dầu Một luôn giữ vị trí là một trung tâm thương mại tiêu biểu của
Bình Dương, đồng thời cũng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng
đại trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cũng chính vì thế,
chợ Bình Dương không chỉ là nơi mua bán mà còn là một biểu trưng văn hóa
gắn liền với lịch sử phát triển của Bình Dương và Nam Bộ.
Thiên Hậu Cung và lễ hội Chùa Bà Thủ Dầu Một
Miếu
bà Thiên Hậu “Thiên Hậu Cung” mà người dân quen gọi là Chùa Bà-nơi lễ
bái quan trọng tín ngưỡng của đồng bào người Việt gốc Hoa trên đất Thủ
Dầu Một, Bình Dương. Miếu Bà hiện nay tọa lạc tại số 4 đường Nguyễn
Du, thị xãThủ Dầu Một, Bình Dương. Miếu do các ban người Việt gốc Hoa
tạo lập để thờ vị nữ thần hiệu là Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Vị nữ thần được sử sách ghi lại có một số nét khác nhau:
Đầu tiên, giai thoại trong dân gian cho rằng: Bà tên là Lâm Mi Châu,
sinh ở Phúc Kiến, đời nhà Tống, là con gái của một ngư phủ, bà vốn có
tánh linh, truyền rằng: Một hôm cha và hai người anh bà đi đánh cá ngoài
biển, chẳng may gặp biển động, thuyền bị chìm, lúc ấy Bà đang ngồi dệt
lụa tại nhà bỗng nhiên nhắm nghiền mắt lại, đưa tay ra trước với dáng
điệu như cố níu kéo một vật gì, người mẹ thấy vậy vội lay gọi bà, bà thu
tay lại ngước mắt, cho mẹ hay là cha đã chết, chỉ cứu được hai anh
thôi. Dân chúng trong vùng hay biết việc này đem lòng tín ngưỡng, từ đó,
mỗi khi đi biển, họ thường đến xin bà phù hộ. Đến năm 27 tuổi bà mất,
được vua Tống sắc phong là Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Theo sách Thanh Nhất Thống Chí
viết: Thiên Hậu là tên một thần biển, con gái thứ sáu của Lâm Nguyệt
tên là Lâm Túc Mặc, người Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến. Khi sinh ra có hương
thơm ngào ngạt, hào quang rực rỡ, lớn lên có phép mầu, cưỡi chiếu bay
trên biển. Sau khi thăng hoa thường mặc áo đỏ bay lượn trên biển. Các
đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh thường hiển linh, thời Khang Hy được phong
làm Thiên Phi, sau gia phong Thiên Hậu.
Trong sách Thăng Long Cổ Tích Khảo,
khi nói về đền thờ Thiên Hậu ở phía ngoài cửa Đông - thành Hà Nội,
viết: Thiên Hậu là người Quảng Đông, cha và anh trai thường đi thuyền
buôn bán ở Nam Hải. Một lần đang dệt vải, nàng ngủ gật, tỉnh dậy nói với
mẹ rằng cha và anh đã bị chết vì sóng gió ngoài biển. Sau nhận được tin
quả nhiên như vậy. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng cưỡi gió bay đi hóa
thành thần biển.
Còn sách Đại Nam Nhất Thống Chí,
khi nói về ngôi đền Thiên Hậu ở bên bờ sông, bên ngoài tỉnh thành Bình
Thuận, viết: Đền thờ Thiên Hậu, bà người Phúc Kiến, nguyên là con gái
nhà họ On, lên tám tuổi đi học phép tiên, 12 tuổi luyện được đan, có tài
gọi gió, gọi mưa, từng bay ra biển cứu giúp những ngườì bị nạn. Thần
được các triều Tống, Minh, triều Thanh phong là Thiên Hậu Thánh Mẫu
(Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưõng dân dã Việt Nam, NXB văn hóa dân tộc).
Về việc thành lập chùa
Đầu
tiên không biết chùa được xây cất năm nào, chỉ biết lúc đầu chùa tọa
lạc tại con rạch Hương Chủ Hiếu (nay đã xây dựng lại ngôi miếu trên vị
trí ban đầu của xưa kia). Người xưa đã chịu ảnh hưởng của quan niệm dân
gian là địa thế xây cất miếu Bà thường tuân theo nguyên tắc kiến trúc
điện mẫu, tức là luôn mang yếu tính nữ trong xây cất, một trong yếu tố
nữ là điện thờ nên chọn nơi gần sông, suối, ao, hồ… nghĩa là gần nơi có
nước, vì nước mang yếu tố âm, mang tính nữ.
Đến năm 1923, bốn Bang người Hoa (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ) chung sức tái tạo ngôi chùa ở vị trí như ngày nay.
Vài nét về kiến trúc, thờ tự, trang trí nội thất: ở hai
cánh cửa chính đề bốn chữ đại tự "Phong Điều Vũ Thuận" (gió mưa điều
hòa). Vào sân chùa, trước cửa điện có đặt một cái đỉnh lớn để những
người đến cúng cắm nhang.
Toàn bộ ngôi chùa kiến trúc thành ba dãy nhà, ở giữa là chính điện
đề ba chữ "Thiên Hậu Cung", trên hai cánh cửa chính đề bốn chữ Quốc Thái
Dân An, hai bên là hai cặp câu đối ca ngợi công đức của bà:
Cặp câu đối thứ nhất
Thánh đức phối thiên hải đức từ hành phổ tế
Mẫu nghi xưng hậu tang du trở đậu trùng quang.
Tạm dịch:
Công đức của bậc thánh có thể sánh với trời, đức mênh mông như biển thuyền từ cứu vớt khắp cùng.
Cặp câu đối thứ hai:
Thiên thượng từ hành nhân gian thánh mẫu
Hậu nghị cộng ngưỡng khôn đức trường tồn.
Tạm dịch:
Tại thượng giới hiệu là từ hàng, tại nhân gian tồn là thánh mẫu.
Bậc hậu oai nghi ai cũng tôn kính, đức dày mãi mãi với thời gian.
Mái trước của chính điện lợp ngói âm dương với những đường chỉ đắp
nổi, trang trí Lưỡng Long Tranh Châu, Cá Chép Hóa Rồng. Hai bên đường
viền của mái nhà là tượng “Bà Mặt Trăng”, những tượng Quan Văn, Quan Võ…
tiêu biểu nhất lí âm dương và cũng là đặc trưng của lối kiến trúc người
Hoa.
Hai dãy nhà hai bên chính điện có đề ở cửa cái chữ "Thất phủ, công
sở", là nơi làm việc, hội họp và những kho chứa đồ đạc, gọi chung là
"Thất phủ công sở". Do vậy, mà bên trong ghi những chữ như: "Hữu Thông"
(đi suốt qua bên mặc), sự chi, công lý (mọi việc theo lẽ công) ( bên
phải). Bên trái ghi: Dĩ Lễ, Thủ Chánh (hãy theo l64, giữ gìn cái chính),
Quảng Nội (rộng rãi bên trong), những chữ vắn tắt ấy như những khẩu
hiệu nhắc nhở mọi người.
Trong điện có cặp đối, nội dung các cặp đối là ngợi ca công đức và
sự linh diệu của Bà trong việc cứu nhân độ thế, hơn nữa bà là vị nữ thần
phò hộ cho người dân đi biển nên hầu hết các cặp đối đều có nhắc đến
những hình ảnh có liên quan đến biển khơi và sự mong ước được sóng yên,
bể lặng, tất nhiên những hình ảnh ấy cũng được hiểu rộng ra với nghĩa
tượng trưng.
Tại chánh cung, thờ vị chánh thần là Thiên Hậu Thánh Mẫu, tượng có
áo mão nghiêm trang và thường được thay mới hàng năm, hoặc hai, ba năm
một lần. Bên trái bà là khám thờ Ngũ Hành Nương Nương. Bên phải thờ Bổn,
gọi là bổn đầu công công.
Hai bên tường có giá cắm tấm biển đề Túc Tĩnh - Hồi Tị, để kêu gọi
mọi người nghiêm trang hoặc tránh ra mỗi khi có rước kiệu Bà đi trên
đường. Cặp biển thứ hai đề Thiên Hậu Nguyên Quân ( Vị thần chủ việc tiền
tài). Các cặp biển sắp theo thứ tự trong thờ tự cũng như trong diễu
hành lễ rước bà.
Hai bên chánh điện được xem như Đông lang, Tây lang, là nơi hội
họp, được gọi là thất thủ công sở. Trong điện có trưng bày giá cắm bát
biểu là tám món bửu bối của tám vị tiên theo truyền thuyết của người
Trung Hoa.
Nhìn chung ngoài những lối kiến trúc, thờ phượng, những chùa miếu
người Hoa còn có những nét đặc trưng nữa là những cây nhang vòng, những
lồng đèn có viết chữ Hán và những màu sơn vàng đỏ sặc sở được trưng bày
trong miếu.
Lễ hội ở miếu Bà:
Ngày lễ thuần túy diễn ra ngày 25 tháng 3, là ngày vía bà. Ngày ấy
chỉ có cúng lễ tế, lễ bái mà không có cuộc rước lễ, diễu hành, đặc biệt
là ở các cuộc lễ của người Hoa ở miếu bà không có đọc sớ hoặc văn tế
thần như các cuộc cúng đình của người việt. Các vật dâng cúng thần cũng
không có quy định cụ thể mà hoàn toàn tùy thuộc ở tấm lòng và điều kiện
của người cúng lễ. Thông thường là bánh, trái, hoa, hương, cau, thịt…
còn loại nào, số lượng bao nhiêu không quy định chắc chẽ.
Hội vừa mang tính chất tín ngưỡng, vừa là dịp dân chúng tụ họp để
chiêm ngưỡng thần, hoặc xem những đợt cúng lễ, múa hát, rước xách, diễu
hành, nghĩa là dịp vừa tín ngưỡng vừa vui chơi, giải trí. Phải chăng
điều đó thể hiện bản chất thích hợp quần chúng của các cuộc lễ hội?
Ngày lễ hội miếu Bà ở Thủ Dầu Một – Bình Dương, được diễn ra ngày
Rằm tháng Giêng Âm lịch hàng năm và được chuẩn bị chu đáo của ban tổ
chức, lại được sự bảo vệ của các cơ quan chức năng. Ngày lễ hội được
tiến hành theo trình tự sau:
Sáng 14 tháng Giêng (AL) lễ bắt đầu, lễ diễn ra đơn giản trong vòng
15 hay 20 phút, sau đó là bá tánh vào lễ. Trong dịp lễ này thường có
tục “Thỉnh Lộc Bà”. Lộc là những cây nhang lớn
và những cái đèn lồng phất giấy. Việc thỉnh lộc bằng đèn, nhang có ý
nghĩa là mang ánh sáng vào hương thơm, tượng trưng cho sự hanh thông,
sáng sủa và danh giá cùng những may mắn cho gia đình.
Trong miếu thường có những lồng đèn phất giấy hình khối tròn như
quả dưa hoặc như quả bí do bá tánh cúng. Sau lễ những đèn ấy được đem
hỏa thiêu, còn những đèn nhang để bá tánh thỉnh lộc. Phần đèn có khoảng
trên dưới 150 cái để người thỉnh lộc, phần nhang thì tùy hoàn cảnh, ít
nhiều không hạn định. Ngoài ra, theo lễ hàng năm miếu Bà có sản xuất độ
15 cái đèn lớn để cúng Bà và số đèn này được đưa ra đấu giá, số tiến có
được sẽ sung vào công quỹ của miếu.
Cuộc rước kiệu Bà: Đây là cuộc hội đồng đông đảo và vui nhộn nhất diễn ra hằng năm ở thị xã Thủ Dầu Một.
Đi đầu là tấm biển đề 4 chữ "Thiên Hậu xuất du". Kế tiếp là đoàn
múa Hẩu của người Hoa thuộc bang Phúc Kiến. Hẩu là con Kim Mao sư (sư tử
rồng vàng), là con thú chúa của loài thú. Hẩu dẫn đầu đoàn rước với ngụ
ý là muốn xua đuổi hoặc răn đe những cái xấu, cái ác, đi trước người
biểu diễn là người điều khiển hướng dẫn, cách thức, điệu múa Hẩu mạnh
bạo, dứt khoát như người diễn võ, dùng nhiều sức nên mệt, do vậy một lúc
có diễn viên khác vào thay. Múa Hẩu không có ông địa đi theo như múa
Lân, Hẩu không leo trèo như Lân. Sau Hẩu là các xe hoa, rồi đồ binh khí,
bát bửu, những tấm bài đề Túc Tĩnh, Hồi Tị.
Sau phần nghi thức cố định này, tùy theo sáng kiến từng năm của ban
tổ chức mà có thể có đoàn Bát tiên (gồm 6 tiên ông và 2 tiên bà ), các
tiên nữ đoàn múa rồng, múa lân.
Sau đoàn múa lân rồi đến cộ bà, cộ bà có tám người khiêng, khiêng
cộ bà là điều có nhiều phước lộc nên được phân đều cho cả bốn Bang, mỗi
bang phụ trách một góc cộ. Kế sau cộ bà là đoàn lân của người Quảng Đông
như để hộ vệ bà cùng với bốn người đại diện của bốn bang người Hoa.
Ý nghĩa cuộc rước cộ là để bà thăm viếng dân tình và để bá tánh
chiếm bái, cầu phúc. Thật ra những cuộc rước thần thánh nói chung ở các
đình, chùa, miếu mạo… là cách đưa sự linh thiêng vào cuộc sống, tạo sự
nối kết giữa thánh thần với đời thường, là dịp để mọi người vui chơi,
giải trí trong cái không khí tín ngưỡng dân gian như mọi hội hè đình đám
của truyền thống văn hóa dân tộc.
Khu – Cụm công nghiệp – Đòn bẩy đưa công nghiệp tỉnh Bình Dương phát triển theo hướng hiện đại
Trong
những năm qua kinh tế tỉnh Bình Dương tăng trưởng nhanh, bình quân tăng
GDP từ 14% - 15%/năm và đã trở thành một trong những tỉnh, thành có nền
công nghiệp phát triển mạnh của cả nước. Thành công đó có sự đóng góp
quan trọng của các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp và là đòn bẩy đưa
công nghiệp Bình Dương phát triển theo hướng hiện đại.
Bình Dương - Sự chuyển mình mạnh mẽ của các Khu – Cụm công nghiệp
Nếu
như vào tháng 9/1995 khi Khu công nghiệp Sóng Thần được thành lập và đi
vào hoạt động thì sau hơn 17 năm, đến nay, tỉnh Bình Dương có 28 khu
công nghiệp (KCN) được thành lập với tổng diện tích quy hoạch 9.093,25
ha, được phân bố chủ yếu ở thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã
Thuận An, huyện Bến Cát và huyện Tân Uyên. Hiện nay đã có 26 khu công
nghiệp chính thức hoạt động với tổng diện tích 8.351 ha.
Kể
từ khi thành lập cho đến nay, các KCN đã cho thuê được 3.169 ha, đạt tỷ
lệ lấp kín 65%; trong đó, có 6 KCN đạt tỷ lệ 100% (Sóng Thần, Đồng An,
Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, VSIP I, Mỹ Phước 2), 04 KCN đạt tỷ lệ trên
95% (Sóng Thần 2, Bình Đường, Bình An, VSIP II), 01 KCN đạt trên 90%
(Nam Tân Uyên).
Về
cụm công nghiệp (CCN), hiện nay tỉnh Bình Dương có 08 CCN đang triển
khai với tổng diện tích được phê duyệt hơn 593 ha tại thị xã Thuận An
(CCN Bình Chuẩn, CCN An Thạnh), thị xã Dĩ An (CCN Tân Đông Hiệp), huyện
Tân Uyên (CCN Công ty cổ phần Thành phố đẹp, CCN Tân Mỹ, CCN thị trấn
Uyên Hưng, CCN Phú Chánh) và huyện Dầu Tiếng (CCN Thanh An). Hiện tại,
tỷ lệ lấp đầy các CCN đạt 40,39%; trong đó, CCN Bình Chuẩn, An Thạnh,
Tân Đông Hiệp và Công ty cổ phần Thành phố đẹp đạt tỷ lệ lấp đầy 100%
diện tích.
Bên
cạnh đó, nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các Khu – Cụm công
nghiệp, các Công ty đầu tư, xây dựng, kinh doanh Khu – Cụm công nghiệp
tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng đạt chuẩn, đáp ứng tốt các yêu cầu của
các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong và ngoài nước, như: hệ thống giao
thông nội bộ KCN kết nối với các trục giao thông chính của tỉnh và các
bến cảng, sân bay, đầu tư hệ thống cung cấp nước sạch và thoát nước, hệ
thống điện, bưu chính viễn thông, nhà máy xử lý chất thải tập trung… với
tổng vốn thực hiện trên 8.200 tỷ đồng và 300 triệu đôla Mỹ (USD).
Bình Dương – Nơi đầu tư hiệu quả của các doanh nghiệp
Với
khẩu hiệu “Trải thảm đỏ đón chào các nhà đầu tư, trải chiếu hoa đón
chào các nhà trí thức”, cùng với đó là sự quyết liệt trong đổi mới cơ
chế quản lý hành chính theo mô hình “một cửa, tại chỗ”, các KCN Bình
Dương đã thu hút được 1.527 dự án còn hiệu lực, bao gồm: 1.145 dự án có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn
8,8 tỷ USD và 382 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 23
ngàn tỷ đồng. Riêng các CCN đã thu hút được 40 dự án, trong đó có 07 dự
án có vốn đầu tư trong nước với tổng vốn 420 tỷ đồng và 33 dự án vốn FDI
với tổng vốn đầu tư 185 triệu USD.
Tình
hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN không ngừng
tăng lên với tốc độ từ 15% - 25%/năm, đến năm 2011 doanh thu đạt 8 tỷ
USD, trong đó, xuất khẩu đạt 3,7 tỷ USD. Mặc dù từng thời điểm nhất định
do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nhưng các doanh nghiệp chủ động
tìm kiếm khách hàng và thị trường mới; bên cạnh đó, các doanh nghiệp mới
bắt đầu đi vào hoạt động hàng năm trên 60 doanh nghiệp cũng đã góp phần
cho doanh thu của KCN tăng lên cao hơn so với tỷ lệ tăng bình quân của
cả nước. Qua đó đã giải quyết việc làm cho khoảng 300.000 lao động,
trong đó, năm 2011 giải quyết việc làm cho hơn 11.000 lao động.
Bình Dương – Mô hình kiểu mẫu phát triển công nghiệp của cả nước
Trong
những năm qua với sự đóng góp của các Khu – Cụm công nghiệp đã đưa tỉnh
Bình Dương trở thành một trong những tỉnh, thành có nền công nghiệp
phát triển mạnh nhất nước với giá trị sản xuất năm 2011 đạt hơn 123.200
tỷ đồng (Khu – Cụm công nghiệp chiếm từ 50% - 70%).
Bên
cạnh đó, các doanh nghiệp trong Khu – Cụm công nghiệp Bình Dương đã góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bình Dương, đẩy nhanh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp – dịch vụ - nông
nghiệp và góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 300.000 lao động trong
và ngoài tỉnh với mức thu nhập ổn định.
Việc
bảo vệ môi trường tại các Khu – Cụm công nghiệp luôn được duy trì và
bảo đảm theo quy định của Nhà nước; với việc một số KCN xây dựng theo
hướng thân thiện với môi trường (Đồng An, VSIP, Mỹ Phước…) là bước phát
triển mới của tỉnh Bình Dương trong việc phát triển công nghiệp đi đôi
với bảo vệ môi trường.
Bình Dương chú trọng xây dựng hạ tầng đi đôi với bảo vệ môi trường tại các KCN
Những năm qua, với nhiều chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư, Bình Dương là một trong những tỉnh, thành có môi trường đầu tư tốt, nhất là kết cấu hạ tầng các KCN được đầu tư một cách đồng bộ, trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Những năm qua, với nhiều chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư, Bình Dương là một trong những tỉnh, thành có môi trường đầu tư tốt, nhất là kết cấu hạ tầng các KCN được đầu tư một cách đồng bộ, trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tập trung xây dựng hạ tầng cơ sở
Theo báo cáo của UBND tỉnh, đến
nay, tổng vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của các KCN thực hiện trên
7.003 tỷ đồng và 392 triệu đô la Mỹ. So với tổng vốn đầu tư được phê
duyệt đạt trên 80% đối với các dự án có vốn đầu tư trong nước và 45% đối
với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Có tất cả 19 doanh nghiệp thuộc
nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng
KCN, bao gồm 3 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, 02 công ty liên doanh, 9
công ty cổ phần, 4 công ty TNHH và 01 doanh nghiệp tư nhân.
Trong tổng vốn đầu tư kết cấu hạ
tầng kỹ thuật, đầu tư cho giao thông và thoát nước chiếm tỷ lệ cao
khoảng 26%, hệ thống xử lý nước thải chiếm 8% so với tổng vốn đầu tư hạ
tầng kỹ thuật trong các KCN. Các KCN đã đầu tư đồng bộ các công trình hạ
tầng kỹ thuật. Cụ thể: giao thông, điện trung thế, điện chiếu sáng, hệ
thống thoát nước thải, nước mưa, trạm xử lý nước thải tập trung, cây
xanh, khu văn phòng, dịch vụ tài chính-ngân hàng. Một số KCN có các
công trình hạ tầng văn hóa như rạp hát, siêu thị, bệnh viện, nhà ở cho
công nhân…
Để phục vụ các nhà đầu tư, hệ
thống giao thông các KCN được đầu tư một cách đồng bộ với kích thước
rộng lớn, thông thoáng, dễ dàng, thuận tiện cho các phương tiện chuyên
chở hàng hóa, xe chữa cháy và phương tiện của người lao động khi lưu
thông.
Dọc hai bên đường giao thông là
những thảm cỏ, cây xanh có tán lớn, tạo mỹ quan và bóng mát. Tuyến đường
lớn có chiều rộng mặt đường trên 32m và đường nhỏ nhất có bề rộng 9m.
Bên cạnh đó, đường giao thông
nội bộ nối liền trục giao thông chính của tỉnh như Quốc lộ 13, đường
DDT742 đi thị xã Đồng Xoài (Bình Phước) và nối với Quốc lộ 14, các đường
tạo lực Khu liên hợp Công nghiệp - Đô thị - Dịch vụ Bình Dương kết nối
các KCN… do tỉnh đầu tư để kết nối hạ tầng trong KCN với bên ngoài hàng
rào KCN, tạo thuận lợi trong việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa của các
doanh nghiệp cũng như thu hút đầu tư.
Hiện nay, tỉnh đã xây dựng dự án
đường Mỹ Phước - Tân Vạn, dự kiến hoàn thành vào năm 2013. Đây sẽ là
tuyến đường vận chuyển huyết mạch để đưa hàng hóa đến cảng Cái Mép - Thị
Vải và sân bay Quốc tế Long Thành trong tương lai, góp phần rút ngắn
thời gian vận chuyển (60%), giảm 25% chi phí cho doanh nghiệp.
Ông Trần Văn Liễu - Trưởng Ban
Quản lý các KCN tỉnh cho biết, hầu hết các KCN đều được triển khai xây
dựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch chi tiết KCN được duyệt. Trong thời
gian qua, cuộc khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút đầu
tư nhưng các công ty đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng vẫn thực
hiện đúng tiến độ với đầy đủ các tiện ích, đáp ứng tốt yêu cầu của các
nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tích cực bảo vệ môi trường KCN
Ngay khi Nghị định số
29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ có hiệu lực thi hành, UBND
tỉnh và UBND các huyện, thị xã có KCN đã tiến hành ủy quyền cho các Ban
Quản lý KCN thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về môi trường trong KCN
để tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện pháp
luật về môi trường của doanh nghiệp KCN. Tỉnh cũng đã chỉ đạo hạn chế
tiếp nhận các dự án có nguy cơ ô nhiễm cao như dệt, nhuộm, xi mạ, hóa
chất; ban hành Kế hoạch bảo vệ môi trường giai đoạn 2007-2010 và
2011-2015; triển khai dự án đặt các thiết bị quan trắc tự động tại 6
KCN.
Trong tổng số 26 KCN đang hoạt
động, có 25 KCN đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung và đưa vào
vận hành, đạt tỷ lệ 96% với tổng công suất thiết kế đạt 110.000m3/ngày; 01 KCN đang xây dựng nhà máy với tổng công suất thiết kế là 2.500m3/ngày. Tỷ lệ các doanh nghiệp trong KCN đấu nối nước thải về nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt 97%.
Đối với doanh nghiệp trong quá
trình sản xuất có phát sinh khí thải, hầu hết đều đã xây dựng và lắp đặt
hệ thống xử lý khí thải cục bộ tại doanh nghiệp. Trong thời gian qua,
kết quả quan trắc không khí tại một số KCN hầu hết các chỉ tiêu ô nhiễm
đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép.
Đối với chất thải rắn phát sinh
từ hoạt động công nghiệp về cơ bản chia làm 3 loại: chất thải rắn sinh
hoạt, chất thải rắn công nghiệp không nguy hại và chất thải rắn nguy
hại. Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp
không nguy hại được Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và môi trường Bình
Dương, các xí nghiệp công trình đô thị của các huyện, thị, thành phố và
một số doanh nghiệp tư nhân thực hiện.
Riêng chất thải rắn nguy hại
được các doanh nghiệp hợp đồng thu gom và xử lý với các đơn vị có chức
năng. Tuy nhiên, việc phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải rắn còn có
nhiều hạn chế, hiệu quả xử lý chất thải nguy hại chưa cao.
Bình Dương buổi đầu khai phá
Cũng
như hầu hết các địa phương thuộc lưu vực sông Phước Long (nay là sông
Đồng Nai) và sông Tân Bình (nay là sông Sài Gòn), vùng đất nay là Bình
Dương cho đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII vẫn còn là vùng đất hoang
dã, rừng rậm lan tràn. Lý do là vì lúc bấy giờ trên vùng đất mênh mông
này mới chỉ có một ít cư dân thuộc các thành phần dân tộc: Stiêng,
Châu-ro, Châu-mạ, Mơ-nông, Khơ me sinh sống. Các dân tộc vừa dân số ít
ỏi, vừa có kỹ thuật sản xuất thấp kém, họ sống chủ yếu nhờ vào phá rừng
làm nương, tỉa lúa theo phương thức du canh du cư, kết hợp với hái lượm
và săn bắt, sống rải rác đây đó theo từng buôn, sóc cách xa nhau, cho
nên ngoại trừ một vài vùng đất cao ở bìa rừng và một số gò đồi, đại bộ
phận đất đai còn lại đều là rừng rậm chưa hề được khai phá. Chính vì lẽ
đó mà cho đến giữa thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn vẫn ghi nhận trong sách Phủ biên tạp lục
của ông cho rằng: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần
Giờ, Lôi Lạp (Soài Rạp), Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng
ngàn dặm”.
Vùng
đất Đồng Nai, Gia Định hầu như hoang vắng vào cuối thế kỷ XVI thì bỗng
trở nên sôi động từ đầu thế kỷ XVII, sự xuất hiện của lớp cư dân mới -
lưu dân người Việt từ miền Thuận Quảng nhập cư vào. Đây là số nông dân
nghèo không chịu nổi sự vơ vét, bóc lột của nhà nước phong kiến Nguyễn
và bọn địa chủ cường hào, cũng như cảnh sống cơ cực, lầm than, chết chóc
do cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn gây
ra. Đây toàn là những người mất tội “Nghịch mạng triều đình” mà phải bị
lưu đày đến đây, những người vì trốn tránh sưu thuế, binh dịch phải chạy
vào đây tìm chốn nương thân. Theo chân người Việt vào những thập kỷ
cuối thế kỷ XVII, một số người Hoa “Phản Thanh Phục Minh” cũng được Chúa
Nguyễn cho lánh nạn vào đây sinh sống.
Số
lưu dân người Việt khi vào tới đất Đồng Nai, Gia Định thì địa điểm dừng
chân đầu tiên của họ, theo sử cũ “Gia Định thành thông chí” là vùng Mỗi
Xuy (còn gọi là Mô Xoài) - Bà Rịa vì đây là đất địa đầu nằm trên trục
giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam, lại ở giáp biển. Rồi từ Mô
Xoài - Bà Rịa, họ tiến dần lên Đồng Nai (Biên Hòa) với các điểm định cư
sớm nhất là: Bà Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, An Hòa, Long Thành, Cù Lao Phố, Cù
Lao Rùa, Cù Lao Tân Chánh, Cù Lao Ngô, Cù Lao Tân Triều… Cũng có một bộ
phận lưu dân vào cửa Cần Giờ, ngược sông Bình Phước (sông Lòng Tàu) lên
vùng Sài Gòn – Bến Nghé và vùng ngày nay là huyện Thuận An và huyện Bến
Cát.
Tiến
trình nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai - Sài Gòn đã diễn
ra liên tục trong suốt thế kỷ XVII và đến cuối thế kỷ này thì dân số đã
hơn 40.000 hộ, phân bố gần như khắp vùng mặc dù mật độ dân cư còn tương
đối thấp. Đó chính là cơ sở xã hội để vào mùa xuân năm Mậu Dần (1698),
chúa Nguyễn Phúc Chu quyết định phái Thống suất Chưởng Cơ lễ thành hầu
Nguyễn Hữu Cảnh vào “kinh lược” (tức là thiết lập hệ thống quản lý hành
chính vùng này) “lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai
làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân
Bình, dựng dinh Phiên Trấn” (Trịnh Hoài Đức, “Gia Định thành thông chí”).
Sau
khi thiết lập chính quyền, Nguyễn Hữu Cảnh lập tức chiêu mộ những lưu
dân từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vô Nam đến ở khắp nơi, đặt
ra phường, ấp, xã. thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng
đất, chuẩn định thuế đinh điền và lập hộ tịch đinh điền.
Khi
mới lập, dinh Trấn Biên lãnh thổ một huyện Phước Long gồm 4 tổng là Tân
Chánh (sau đổi thành Phước Chánh), Bình An, Long Thành và Phước An. Địa
phận tổng Bình An lúc bấy giờ là địa phận hai tỉnh Bình Dương và Bình
Phước ngày nay. Địa phận tỉnh Bình Dương ngày nay nằm ở phần đất phía
dưới của tổng Bình An. Đất vùng này nhờ có hệ thống kênh rạch thuận lợi
cho việc tưới tiêu nên thích hợp với việc trồng cây lương thực, các loại
cây họ đậu, cây công nghiệp ngắn ngày. Đặc biệt, vùng đất phù sa cổ dọc
sông Sài Gòn, sông Đồng Nai rất thích hợp với nhiều loại cây ăn trái
đặc sản. Ngoài ra, lượng mưa ở vùng này tương đối điều hòa nên hầu hết
các loại cây trồng đều phát triển nhanh. Chính vì môi trường tự nhiên
của đất Bình An khá thuận lợi cho cuộc sống con người, cho nên đây cũng
là nơi sớm thu hút lưu dân đến sinh cư lập nghiệp. Thời kỳ ban đầu, lưu
dân người Việt, người Hoa sống chủ yếu ở ven sông Đồng Nai, sông Sài
Gòn, càng về sau, dân số càng phát triển do sinh đẻ tự nhiên và do di
dân bổ sung nên họ mở rộng địa bàn cư trú và khai thác về phía Bắc.
Kết
quả là chỉ trong vòng một thế kỷ - từ sau ngày Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh
lược (1698), vùng đất này có bước phát triển khá nhanh về kinh tế và xã
hội. Chính vì vậy mà năm 1808, triều Nguyễn đã quyết định nâng huyện
lên phủ, nâng tổng lên huyện “xét đất rộng hẹp, dân nhiều ít, cứ theo
địa thế liên lạc nhau mà chia đều, lại đặt thêm tổng đều lập giới hạn”.
Theo quyết định này, tổng Bình An được nâng lên huyện Bình An gồm 2 tổng
(Bình Chánh, An Thủy) với 119 xã, thôn, phường, ấp, điểm.
Ở
đây cần nói rõ một điều là vào thời điểm đạc điền lập địa bạ năm 1836,
Biên Hòa thuộc diện đất rộng người thưa trong tổng số 31 tỉnh của cả
nước lúc đó. Năm 1840, cả nước có 4.063.892 mẫu ruộng đất, Biên Hòa chỉ
có 13.420 mẫu ruộng đất canh tác, chiếm 0,31%; năm 1847, cả nước có
1.024,388 suất đinh, Biên Hòa mới có 16.949 suất đinh, chiếm tỉ lệ
1,65%. Đó là sự thật, vì Đồng Nai – Biên Hòa tuy là nơi lưu dân đến sinh
cư lập nghiệp sớm nhất, nhưng vì đất đai ở đây khó khai khẩn (rừng rậm,
đất đồi bazan chỉ thích hợp với loại cây công nghiệp dài ngày như cao
su chẳng hạn) so với trình độ kỹ thuật sản xuất nông nghiệp lúc bấy giờ.
Nhưng đó là xét chung tỉnh Biên Hòa so sánh với các địa phương khác
trong cả nước còn nếu chỉ xét riêng huyện Bình An thì tình hình không
phải như vậy, trong số bốn huyện của tỉnh Biên Hòa, Bình An là huyện có
số diện tích thực canh lớn nhất.
Đơn vị: mẫu, sào, thước Tây
| STT |
Huyện
|
Diện tích đo đạc
|
Diện tích thực canh
|
1
2
3
4
|
Bình An
Phước Chánh
Long Thành
Phước An
|
6723.1.5.6
3435.7.3.7
2425.0.2.7
1729.4.3.3
|
6119.6.14.4
3279.9.14.9
2329.1.9.0
1698.2.13.2
|
(Nguồn: Nguyễn Đình Đầu, nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn-Biên Hòa. Nxb. TP HCM, 1994.)
Và
trong đó, diện tích thực canh, nếu tính riêng diện tích làm ruộng (điền
canh) và diện tích làm hoa màu (thổ canh) thì Bình An cũng chiếm tỉ lệ
cao nhất. Về diện tích làm ruộng, toàn tỉnh Biên Hòa có 11.109m8s14th7t
thì riêng Bình An có tới 5.494m4s2th7t, chiếm 49,46%;
Về
diện tích trồng hoa màu (thổ canh), toàn tỉnh Biên Hòa có 2.317m2s6th8t
thì riêng huyện Bình An có tới 589m5s4th8t, chiếm 26,10%, hoa màu trồng ở
đây chủ yếu là khoai, đậu, đậu phụng, phiên lê (?).
Về
phương thức canh tác ruộng lúa ở Biên Hòa nói chung, huyện Bình An nói
riêng, Trịnh Hoài Đức cho biết ruộng lúa lúc bấy giờ chia làm hai loại
sơn điền và thảo điền. Sơn điền (ruộng cao), lúc bắt đầu khai khẩn thì
đốn chặt cây cối, đợi cho khô đốt làm phân tro, khi mưa xuống trồng lúa,
không cần cày bừa, dùng lực ít mà được bội lợi, trong ba năm, bốn năm
thì đổi làm chỗ khác… lại có chỗ nguyên ruộng thấp (thảo điền) mà nghiệp
chủ trưng dụng làm sơn điền, lâu đã thành thục thì cày bừa cũng như
thảo điền (ruộng thấp ướt, cỏ mọc). Thảo điền là ruộng lùng lác bùn lầy,
lúc nắng khô nứt nẻ như vẻ mu rùa, có hang hố sâu lớn, đợi có nước mưa
đầy đủ đầm thấm, nhiên hậu mới hạ canh, mà trâu cày phải lựa con nào có
sức mạnh, móng chân cao mới kéo cày được, nếu không vậy thì ngã ngập
trong bùn lầy, không đứng dậy nổi. Ruộng cày trâu ở Phiên An, Biên Hòa
một hộc lúa giống thu hoạch được 100 hộc.
Ruộng
lúa ở Biên Hòa nói chung, Bình An nói riêng còn được chia làm ba loại
theo thời vụ, ruộng sớm : tháng 5 gieo mạ, tháng 6 cấy, tháng 9 gặt;
ruộng muộn : tháng 6 gieo mạ tháng 7 cấy, tháng 11 gặt; trong huyện Bình
An, tổng Bình Chánh có ruộng sớm, tổng An Thủy có cả ruộng sớm lẫn
ruộng muộn.
Trên đây là những thành quả về mặt khai khẩn và lĩnh vực kinh tế nói chung.
Trên
lĩnh vực xã hội, Bình An là nơi có dân số tăng nhanh so với các huyện
khác trong tỉnh Biên Hòa. Sử liệu không ghi lại dân số từng huyện, nhưng
ta có thể tìm hiểu vấn đề này qua diện tích đất ở. Theo số liệu có được
thông qua cuộc đạc điền năm 1836, diện tích đất ở của toàn trấn Biên
Hòa là 686 mẫu 2 sào 9 thước 7 tấc (chiếm 4,86% tổng diện tích đất sử
dụng) thì riêng Bình An đã có tới 543 mẫu 9 sào 2 thước 3 tấc, chiếm
79,26% đất ở của toàn tỉnh Biên Hòa.
Như
vậy, qua các số liệu trên, ta thấy Bình An là nơi có tốc độ khai phá
nhanh nhất và quy mô khai phá sớm nhất so với toàn trấn Biên Hòa trong
thời kỳ khai phá thuộc hai thế kỷ XVII, XVIII. Đó chính là tiền đề vững
chắc cho những bước phát triển mạnh mẽ tiếp theo của vùng đất giàu tiềm
năng này.
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020
Quan điểm phát triển
Quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020
nhằm xây dựng Bình Dương thành một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế
nhanh, toàn diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải
quyết tốt các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tập trung khai thác lợi thế về
vị trí địa lý, sự hợp tác của các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và cực hạt nhân phát triển là thành phố Hồ Chí Minh để phát
triển kinh tế - xã hội. Chủ động hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả
kinh tế gắn với phát triển xã hội trên cơ sở đầu tư có trọng điểm; xây
dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; phát triển công nghiệp gắn với
phát triển đô thị và dịch vụ; phát triển kinh tế xã hội kết hợp chặt chẽ
với bảo vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh vững mạnh trên địa
bàn.
Mục tiêu phát triển
Đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng phát triển
công nghiệp, dịch vụ. Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; chú
trọng phát triển dịch vụ nhà ở, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và
chăm sóc sức khoẻ. Hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá và tạo ra sự
phát triển cân đối, bền vững giai đoạn sau năm 2015;
Xây
dựng Bình Dương thành một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, toàn
diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt
các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân.
Các chỉ tiêu kinh tế cụ thể:
- Cơ cấu kinh tế: phát triển và chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ trong tổng GDP:
- Cơ cấu kinh tế: phát triển và chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ trong tổng GDP:
Năm 2010
|
Năm 2015
|
Năm 2020
|
|
| Quy mô dân số (triệu người) |
1,2
|
1,6
|
2,0
|
| Thu nhập bình quân đầu người (triệu đồng/người giá so sánh năm 2005) |
30
|
52
|
89,6
|
| Thu nhập bình quân đầu người (USD/người quy ra USD theo giá so sánh năm 2005) |
2.000
|
4.000
|
5.800
|
| Cơ cấu kinh tế: nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp - dịch vụ |
4,5% -65,5% - 30%
|
3,4% - 62,9% - 33,7%
|
2,3% - 55,5% - 42,2%
|
- Cơ cấu lao
động chuyển dịch cùng với cơ cấu kinh tế theo hướng giảm lao động làm
việc trong các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất, hiệu
quả cao hơn:
Năm 2010
|
Năm 2015
|
Năm 2020
|
|
| Ngành nông, lâm, ngư nghiệp |
20%
|
14%
|
10%
|
| Công nghiệp – xây dựng |
45%
|
48%
|
45%
|
| Dịch vụ |
35%
|
38%
|
45%
|
-Tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành, lĩnh vực (%/năm):
2011 - 2015
|
2016 - 2020
|
2006 - 2020
|
|
| GDP |
14,9
|
13
|
14,3
|
| Nông, lâm nghiệp, thủy sản |
3,4
|
3,6
|
3,4
|
| Công nghiệp, xây dựng |
14,5
|
12,3
|
14,5
|
| Dịch vụ |
16,5
|
16,1
|
16,0
|
- Kim ngạch xuất - nhập khẩu (triệu USD):
| Năm 2010 | Năm 2015 | Năm 2020 | |
| Kim ngạch xuất khẩu | 8.662 | 14.000 | 25.000 |
| Kim ngạch nhập khẩu | 7.527 | 10.000 | 15.000 |
| Tổng cộng | 16.189 | 24.000 | 25.000 |
Một số chỉ tiêu văn hóa – xã hội:
Năm 2010
|
Năm 2015
|
Năm 2020
|
|
| Tỷ lệ thất nghiệp |
Dưới 4,4%
|
4,2%
|
4%
|
| Lao động qua đào tạo |
Trên 70%
|
||
| Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng |
Dưới 10%
|
Không còn
|
|
| Tuổi thọ trung bình |
75
|
77
|
80
|
| Số cán bộ y tế (CBYT)/vạn dân |
27 (có 8 bác sĩ)
|
38 (có 15 bác sĩ)
|
55 (có 30 bác sĩ)
|
| Số trường trung học cơ sở ở mỗi xã, phường |
Ít nhất 1
|
||
| Mật độ điện thoại (số máy/100 dân) |
42
|
50
|
60
|
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa:
- Tỷ lệ đô thị hoá đạt 40% năm 2010,
tăng lên 50% năm 2015 và đạt 75% năm 2020. Dự báo, dân số đô thị năm
2010 là 480 nghìn người, năm 2020 là 1,5 triệu người. Phấn đấu đưa tỉnh
Bình Dương trở thành đô thị loại I, trực thuộc Trung ương vào năm 2020.
Không gian thành phố Bình Dương kết nối với thành phố Hồ Chí Minh và
thành phố Biên Hoà trở thành đại đô thị của cả nước.
- Năm 2020, dự kiến toàn Tỉnh có 31 khu công nghiệp với tổng diện
tích 9.360,5 ha và 23 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.704 ha.
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
-
Giao thông: Phát triển giao thông đường bộ theo hướng kết nối với hệ
thống quốc lộ hiện đại tầm cỡ khu vực, với sân bay quốc tế và cụm cảng
biển Thị Vải - Vũng Tàu và hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác. Tập trung
phát triển các trục giao thông đường bộ từ đại lộ Bình Dương đi cửa khẩu
Hoa Lư, từ đại lộ Bình Dương đi Đồng Xoài, từ đại lộ Bình Dương đi Dầu
Tiếng, đường cao tốc Mỹ Phước - Tân Vạn. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao
thông vận tải xây dựng các trục cắt ngang: Vành đai 3, Vành đai 4, đường
Thường Tân - Tân Hưng - Hưng Hòa... Đối với giao thông đường thuỷ: tiếp
tục nạo vét luồng lạch sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Thị Tính;
cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống cảng phục vụ vận chuyển, du lịch
và dân sinh.
-
Cấp điện, cấp nước: Đầu tư đồng bộ nâng cấp, xây mới hệ thống cấp điện,
cấp nước đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân, đặc biệt là ở
các khu công nghiệp và đô thị tập trung. Tốc độ tăng trưởng điện năng
tăng trung bình 24%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và giảm xuống còn 13%/năm
giai đoạn 2011- 2015. Tổng nhu cầu điện năng tiêu thụ 6.700 GWh đến năm
2010 và 12.400 GWh đến 2015. Thành phần phụ tải cho sản xuất và tiêu
dùng khoảng 20% thời kỳ đến 2015 và 18% thời kỳ đến 2020. Thành phần phụ
tải phục vụ phát triển các ngành dịch vụ khoảng 36% thời kỳ 2006 - 2015
và ổn định 30% thời kỳ sau 2015. Đến năm 2010, ngành nước phải xử lý
247.000 m3/ngày đêm và đến năm 2020 xử lý 462.000 m3/ngày đêm. Bảo đảm 95 - 97% hộ nông thôn được dùng điện và nước sạch năm 2010 và tỷ lệ này đạt 100% vào năm 2020.
-
Thông tin liên lạc: Phát triển ngành bưu chính viễn thông hiện đại,
đồng bộ theo tiêu chuẩn kỹ thuật số hoá và tự động hoá nhằm bảo đảm
thông tin thông suốt toàn tỉnh, gắn kết với Vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam.
Bình Dương
tiếp giáp với các tỉnh, thành sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước. Phía
Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai. Phía Tây
giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh.
Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm 8 tỉnh thành, thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây
Ninh, Long An và tỉnh Tiền Giang), là một trong những tỉnh có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước
Địa
hình tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên
phong phú. Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa, từ tháng 5 - 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước
đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm 1.800mm - 2.000mm.
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC.
Diện
tích tự nhiên 269.442,84 ha (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước,
khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ). Dân số 1.727.154 người
(31/12/2011), mật độ dân số khoảng 550 người/km2. Gồm 7 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó thánh phố Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh.
Bình
Dương là cửa ngõ giao thương với TP. Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế -
văn hóa của cả nước; có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia
chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á …;
cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15 Km…
thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội toàn diện.
Trong
những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, GDP tăng
bình quân khoảng 14,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, công
nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, năm 2010, tỷ lệ
công nghiệp - xây dựng 63%, dịch vụ 32,6% và nông lâm nghiệp 4,4%.
Hiện
nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung có
tổng diện tích hơn 8.700 ha với hơn 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài
nước đang hoạt động có tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ đôla Mỹ.
Với
những ưu thế về điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế - xã hội và chính
sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển
bền vững, trở thành một thành phố văn minh, hiện đại nhất Việt Nam và
khu vực Đông Nam Á.